5. Sớ Cúng Thánh Đản Bồ Tát Địa Tạng

(Cửu U Giáo Chủ)

 

Nguyên văn:

 

伏以

九幽敎主、利生於冥界之中、八難累愆、罪於沈淪之趣。疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、本寺奉

佛上献供恭遇地藏菩薩慶誕之辰、祈陰超陽泰事。今弟子...等、惟日拜干

佛恩俯垂炤鑒。言念、慈心誓大、悲智願深、布德好生庸、保陰陽兩利、推人及物、感資解脫諸愆。茲者辰維...月、恭詣誕辰、莊嚴梵宇以建筵、羅列香花而上献。今則謹具疏章、和南拜白。

南無十方常住三寶作大證明。

南無道塲敎主本師釋迦牟尼佛作大證明。

南無幽冥敎主大悲大願地藏王菩薩作大證明。伏願、慈恩普濟、鐵圍變作香林、慧澤洪開、冥途化爲智地、提擕六道、咸登解脫之門、接度沈淪、引赴蓮池之會。謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時、齋主等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ:

Cửu U giáo chủ, lợi sanh ư minh giới chi trung; Bát Nạn1 lụy khiên, bạt tội ư trầm luân chi thú.

Bái sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, bổn tự phụng Phật thượng hương hiến cúng Địa Tạng Bồ Tát khánh đản chi thần, kỳ âm siêu dương thái sự. Kim đệ tử … đẳng, duy nhật bái can Phật ân, phủ thùy chiếu giám.

Ngôn niệm: Từ tâm thệ đại, bi trí nguyện thâm; bố đức hảo sanh, dung bảo âm dương lưỡng lợi; thôi nhân cập vật, cảm tư giải thoát chư khiên. Tư giả thần duy … nguyệt, cung nghệ đản thần; trang nghiêm Phạm vũ dĩ kiến diên, la liệt hương hoa như thượng hiến. Kim tắc cẩn cụ sớ chương, hòa nam bái bạch:

Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo tác đại chứng minh.

Nam Mô Đạo Tràng Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tác đại chứng minh.

Nam Mô U Minh Giáo Chủ Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.

Phục nguyện: Từ ân phổ tế, Thiết Vi2 biến tác hương lâm; huệ trạch hồng khai, minh đồ hóa vi trí địa; đề huề Lục Đạo, hàm đăng giải thoát chi môn; tiếp dẫn trầm luân, dẫn phó Liên Trì chi hội. Cẩn sớ.

Phật lịch … Tuế thứ … niên … nguyệt … nhật thời.

Trai chủ … đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

  1. U giáo chủ, lợi sanh cứu khổ cõi tối tăm; Tám Nạn oan khiên, bạt tội nơi trầm luân vạn nẻo.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có chùa thờ Phật, dâng hương hiến cúng nhân dịp khánh đản Địa Tạng Bồ Tát, cầu âm siêu dương thái. Hôm nay đệ tử chúng con …, ngưỡng mong ơn Phật, xót thương chứng giám.

Nép nghĩ: Tâm từ thệ lớn, trí thương nguyện sâu; ban đức khắp sinh linh, hộ âm dương lợi lạc; khắp người và vật, cảm ơn giải thoát tội khiên. Nay gặp lúc tháng …, cung đón Thánh đản, trang nghiêm Phạm vũ để cúng dâng, la liệt hương hoa xin kính hiến. Nay dâng sớ chương, kính thành lạy thỉnh:

Kính lạy Ba Ngôi Báu Thường Trú Trong Mười Phương chứng giám cho.

Kính lạy đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, giáo chủ đạo tràng, chứng giám cho.

Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, giáo chủ cõi U Minh chứng giám cho.

Lại nguyện: Ơn từ rưới khắp, Thiết Vi biến thành rừng hương; sông tuệ rộng khai, minh đồ hóa thành cõi trí; dẫn dắt Sáu Cõi, cùng lên giải thoát cửa thiêng; tiếp độ trầm luân, dẫn đến Liên Trì thắng hội. Kính dâng sớ.

Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...

Trai chủ chúng con kính thành dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

  1. Bát Nạn (s: aṣṭa-akṣaṇa, p: aṭṭha akkhaṇā, 八難): ý dịch là Bát Nạn Xứ (八難), Bát Nạn Giải Pháp (八難解法), Bát Vô Hạ (無暇), Bát Bất Nhàn (八不閑), Bát Phi Thời (非時), Bát Ác (); là 8 loại nạn xứ, tức là 8 loại cảnh giới mà một vị tu hành không thấy được Phật, không được nghe chánh pháp, không tu phạm hạnh để hướng đến đạo Bồ Đề. Đó là (1) Địa Ngục (s, p: naraka, 地獄); (2) Súc Sanh (s: tiryagyoni, p: tiracchānayoni, 畜生); (3) Ngạ Quỷ (s: preta, p: peta, 餓鬼); (4) Trường Thọ Thiên (s: dīrghāyu-deva, p: digghāyu-deva, 長壽天, còn gọi là [無想天], tuổi thọ của chư thiên trên cõi trời nầy còn nhiều hơn tuổi thọ ở Bắc Cu Lô Châu [s: Uttara-kuru, 盧洲], không có duyên gặp Phật, nghe pháp và thấy chư tăng); (5) biên địa (s; pratyanta-janapada, p: paccanta-janapada, 邊地); (6) manh lung ám á (s: indriya-vaikalya, p: indriya-vekalla, 盲聾瘖啞, mù, điếc, câm, ngọng, các căn bị hủy hoại, mất đi chức năng của chúng); (7) thế trí biện thông (s: mithyā-darśana, p: micchā-dassana, 世智辯聰, tức tà kiến, nhận thức, quan điểm không đúng); và (8) Phật tiền Phật hậu (s: tathāgatānā anutpāda, p: tathāgatānā anuppāda, 佛前佛後, sanh ra trước Phật hay sau Phật). Như trong Thập Thượng Kinh (十上經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō No. 1) quyển 9, có giải thích rằng: “Vân hà Bát Nan Giải Pháp ? Vị Bát Bất Nhàn phương tu phạm hạnh, vân hà bát ? Như Lai chí chơn xuất hiện ư thế, thuyết vi diệu pháp, tịch diệt vô vi, hướng Bồ Đề đạo, hữu nhân sanh Địa Ngục trung, thị vi bất nhàn xứ, bất đắc tu phạm hạnh; Như Lai chí chơn xuất hiện ư thế, thuyết vi diệu pháp, tịch diệt vô vi, hướng Bồ Đề đạo, nhi hữu chúng sanh tại Súc Sanh trung, Ngạ Quỷ trung, Trường Thọ Thiên trung, biên địa vô thức, vô Phật pháp xứ, thị vi bất nhàn xứ, bất đắc tu phạm hạnh; Như Lai chí chơn đẳng chánh giác xuất hiện ư thế, thuyết vi diệu pháp, tịch diệt vô vi, hướng Bồ Đề đạo, hoặc hữu chúng sanh sanh ư trung quốc, nhi hữu tà kiến, hoài điên đảo tâm, ác hạnh thành tựu, tất nhập Địa Ngục, thị vi bất nhàn xứ, bất đắc tu phạm hạnh; Như Lai chí chơn đẳng chánh giác xuất hiện ư thế, thuyết vi diệu pháp, tịch diệt vô vi, hướng Bồ Đề đạo, hoặc hữu chúng sanh sanh ư trung quốc, lung manh ám á, bất đắc văn pháp, tu hành phạm hạnh, thị vi bất nhàn xứ; Như Lai chí chơn đẳng chánh giác bất xuất thế gian, vô hữu năng thuyết vi diệu pháp, tịch diệt vô vi, hướng Bồ Đề đạo, nhi hữu chúng sanh sanh ư trung quốc, bỉ chư căn cụ túc, kham thọ Thánh giáo, nhi bất trị Phật, bất đắc tu hành phạm hạnh, thị vi Bát Bất Nhàn (云何八難解法謂八不閑妨修梵行云何八如來至眞出現於世說微妙法寂滅無爲向菩提道有人生地獄中是爲不閑處不得修梵行如來至眞出現於世說微妙法寂滅無爲向菩提道而有眾生在畜生中餓鬼中長壽天中邊地無識無佛法處是爲不閑處不得修梵行如來至眞等正覺出現於世說微妙法寂滅無爲向菩提道或有眾生生於中國而有邪見懷顛倒心惡行成就必入地獄是爲不閑處不得修梵行如來至眞等正覺出現於世說微妙法寂滅無爲向菩提道或有眾生生於中國聾盲瘖啞不得聞法修行梵行是爲不閑處如來至眞等正覺不出世間無有能說微妙法寂滅無爲向菩提道而有眾生生於中國彼諸根具足堪受聖而不值佛不得修行梵行是爲八不閑, thế nào là Tám Pháp Khó Giải Quyết ? Tức là Tám Điều Không Yên làm trở ngại cho việc tu phạm hạnh, thế nào là tám ? Đức Như Lai chí chơn xuất hiện giữa đời, nói pháp vi diệu, vắng lặng vô vi, hướng đến đạo Bồ Đề, nếu có người sanh vào trong Địa Ngục, là nơi không yên ổn, không thể tu phạm hạnh; đức Như Lai chí chơn xuất hiện giữa đời, nói pháp vi diệu, vắng lặng vô vi, hướng đến đạo Bồ Đề, mà có chúng sanh nào trong cõi Súc Sanh, trong cõi Ngạ Quỷ, trong cõi Trường Thọ Thiên, biên địa không biết, nơi chẳng có Phật pháp, là nơi không yên ổn, không thể tu phạm hạnh; đức Như Lai chí chơn, giác ngộ chân chánh, xuất hiện giữa đời, nói pháp vi diệu, vắng lặng vô vi, hướng đến đạo Bồ Đề, hoặc có chúng sanh nào sanh ở nước giữa, mà có tà kiến, mang tâm điên đảo, thành tựu hạnh ác, tất vào Địa Ngục, là nơi không yên ổn, không thể tu phạm hạnh; đức Như Lai chí chơn, giác ngộ chân chánh, xuất hiện giữa đời, nói pháp vi diệu, vắng lặng vô vi, hướng đến đạo Bồ Đề, hoặc có chúng sanh nào sanh ở nước giữa, bị điếc, đui, câm, ngọng, không thể nghe pháp, tu hành phạm hạnh, là nơi không yên ổn; đức Như Lai chí chơn, giác ngộ chân chánh, không xuất hiện giữa đời, không thể nói pháp vi diệu, vắng lặng vô vi, hướng đến đạo Bồ Đề, mà có chúng sanh nào sanh ở nước giữa, các căn người đó đầy đủ, có thể thọ Thánh giáo, mà không gặp được Phật, không thể tu hành phạm hạnh; đó là Tám Điều Không Yên).” Hay như Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp (慈悲道塲懺法, Taishō No. 1909) quyển 7 cũng giải thích tương tự: “Bát Nạn, nhất giả Địa Ngục, nhị giả Ngạ Quỷ, tam giả Súc Sanh, tứ giả biên địa, ngũ giả Trường Thọ Thiên, lục giả tuy đắc nhân thân lung tàn bách tật, thất giả sanh tà kiến gia, bát giả sanh Phật tiền, hoặc sanh Phật hậu, hữu thử Bát Nạn (八難一者地獄二者餓鬼三者畜生四者邊地五者長壽天六者雖得人身癃殘百疾七者生邪見家八者生佛前或生佛後有此八難, Tám Nạn, một là Địa Ngục, hai là Ngạ Quỷ, ba là Súc Sanh, bốn là biên địa, năm là Trường Thọ Thiên, sáu là tuy được thân người nhưng bị tàn tật trăm bệnh, bảy là sanh vào nhà tà kiến, tám là sanh ra trước Phật, hoặc sanh sau Phật, có Tám Nạn nầy).” Tắm Phật cũng có công đức xa lìa được Tám Nạn nầy, như trong Dục Phật Công Đức Kinh (浴佛功德經, Taishō No. 698) có dạy: “Trường từ Bát Nạn, vĩnh xuất khổ duyên (長辭八難永出苦緣, từ bỏ Tám Nạn, mãi ra khỏi duyên khổ).” Hoặc trong Di Sơn Phát Nguyện Văn (怡山發願文) của Thiền Sư Di Sơn Kiểu Nhiên (怡山皎然, Isan Kōnen, ?-?) cũng có câu: “Chấp trì cấm giới, trần nghiệp bất xâm, nghiêm hộ oai nghi, quyên phi vô tổn, bất phùng Bát Nạn, bất khuyết Tứ Duyên (執持禁戒、塵業不侵、嚴護威儀、蜎飛無損、不逢八難、不缺四緣, vâng giữ giới cấm, trần nghiệp chẳng xâm, gìn giữ oai nghi, bọ bay chẳng hại, không gặp Tám Nạn, không khuyết Bốn Duyên).” Ngoài ra, theo giải thích của thế tục, Tám Nạn là 8 thứ tai ách: đói, khát, lạnh, nóng, lửa, nước, đao, binh.

Tức Thiết Vi Sơn (s: Cakravāa-parvata, p: Cakkavāa-pabbata, 鐵圍山): còn gọi là Thiết Luân Vi Sơn (圍山), Luân Vi Sơn (圍山), Kim Cang Vi Sơn (金剛圍山), Kim Cang Sơn (金剛), Luân Sơn (); là ngọn núi thứ 9 trong 9 ngọn núi lấy Tu Di Sơn (s, p: Sumeru, 須彌山) làm trung tâm. Đây là ngọn núi sắt có hình vòng tròn, bao bọc chung quanh biển ngoài của Bốn Châu. Có thuyết cho rằng trong núi nầy có Đại Thiết Vi Sơn (鐵圍山) và Tiểu Thiết Vi Sơn (鐵圍山), giữa hai núi nầy có vùng đất âm dương không bao giờ đến được. Nơi ấy gọi là Động Hắc Sơn Quỷ. Như trong Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh (地藏菩薩本願經, Taishō No. 412), Phẩm Địa Ngục Danh Hiệu (地獄名號品) thứ 5 có giải thích về núi nầy như sau: “Diêm Phù Đề đông phương hữu sơn, hiệu viết Thiết Vi, kỳ sơn hắc thúy, vô nhật nguyệt quang(閻浮提東方有山、號曰鐵圍、其山黑邃、無日月光, phương đông cõi Diêm Phù Đề có núi tên là Thiết Vi, núi ấy đen ngòm, không có ánh sáng mặt trời mặt trăng).” Trong Tăng Nhất A Hàm Kinh (增壹阿含經, Taishō No. 125) quyển 34 cho biết thêm rằng: “Cận Tu Di Sơn nam hữu Đại Thiết Vi Sơn, trường bát vạn tứ thiên lí, cao bát vạn lí (近須彌山南有大鐵圍山長八萬四千里高八萬里, gần phía nam Núi Tu Di có Núi Đại Thiết Vi, dài tám vạn bốn ngàn dặm, cao tám vạn dặm).” Phẩm Quán Chúng Sanh Nghiệp Duyên (觀眾生業緣品) thứ 3 của Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh cũng diễn tả: “Chư hữu Địa Ngục tại Đại Thiết Vi Sơn chi nội, kỳ đại Địa Ngục hữu nhất thập bát sở, thứ hữu ngũ bách, danh hiệu các biệt, thứ hữu thiên bách, danh tự diệc biệt (諸有地獄在大鐵圍山之內、其大地獄有一十八所、次有五百、名號各別、次有千百、名字亦別, có các Địa Ngục trong Núi Đại Thiết Vi, Địa Ngục lớn nầy có mười tám chỗ, kế đến có năm trăm chỗ, tên hiệu đều khác; kế đến có ngàn trăm, tên gọi cũng khác nhau).” Tống Dục (宋昱, ?-?) nhà Đường có làm bài Đề Thạch Quật (題石窟), được thâu lục trong Toàn Đường Thi (全唐詩) quyển 121, như sau: “Phạm vũ khai kim địa, hương khám tạc Thiết Vi, ảnh trung quần tượng động, không lí chúng linh phi, liêm dũ lung châu húc, phòng lang ấp thúy vi, thụy liên sanh Phật bộ, dao thọ quải thiên y, yêu phước công tuy tại, hưng vương đại cửu phi, thùy tri vân sóc ngoại, cánh đổ hóa hồ quy (梵宇開金地、香龕鑿鐵圍、影中群象動、空裏眾靈飛、簷牖籠朱旭、房廊挹翠微、瑞蓮生佛步、瑤樹掛天衣、邀福功雖在、興王代久非、誰知雲朔外、更睹化胡歸, Phạm vũ đất vàng mở, khám hương tạc Thiết Vi, trong bóng đàn voi động, trên không linh thần bay, rèm cửa lồng đỏ rực, phòng hiên rợp thúy vi, sen ngọc sanh bước Phật, cây ngà mang trời y, cầu phước công đức đó, bao đời vua qua đi, ai hay mây xa tít, lại thấy hóa mọi về).”